Trắc nghiệm Lịch sử 10 Chân trời sáng tạo Bài 18 (có đáp án): Văn minh Đại Việt. Câu 1. Một trong những cơ sở hình thành văn minh Đại Việt là. A. quá trình áp đặt về kinh tế lên các quốc gia láng giềng. B. quá trình xâm lược và bành trướng lãnh thổ ra bên ngoài. C. sự
Vì thế tôi chọn giờ trả bài Tập làm văn cho học sinh lớp 5 làm đề tài suy ngẫm cho mình. 3. Những vấn đề mới và khó: Bản thân tôi thiết nghĩ muốn nói gì thì nói chất lượng học sinh vẫn là hàng đầu, là quan trọng nhất trong nền giáo dục. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà xã hội đang đòi hỏi.
1 PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO DUY XUYÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 DUY PHƯỚC Tác giả : TRẦN THỊ THOẠI Chức vụ : Giáo viên Kiêm nhiệm : Chủ tịch công đoàn Năm học : 2012 - 2013 1 I. Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 5 II. ĐẶT VẤN ĐỀ: 1. Lí do chọn đề tài Xem và Tải
Theo đó, ở cả 2 đợt, có tổng số 2.122 sáng kiến kinh nghiệm được công nhận và cấp giấy chứng nhận. Trong số này, có 9 sáng kiến được xếp loại A. 4/9 sáng kiến này thuộc về lĩnh vực Quản lý, số còn lại thuộc các lĩnh vực Ngữ văn, Toán học, Chủ nhiệm, Vật lý, Hóa học.
Là phương pháp nghiên cứu các loại tài liệu về dạy học môn Tập làm văn lớp 5 theo hướng đổi mới nhằm thu thập thêm kiến thức để thực hiện đề tài. Phương pháp khảo sát: Là phương pháp khảo sát đối tượng học sinh, nhất là các em lớp 5 về đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh gia đình,… để xây dựng những biệnpháp phù hợp với đối tượng các em.
Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. Thư viện sáng kiến kinh nghiệm Lớp 5 hay nhất, sang kien kinh nghiem Lop 5 cho quy thay co tham khao, skkn Lớp 5 chọn lọc.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI “RÈN KĨ NĂNG VIẾT BÀI VĂN TẢ CẢNH CHO HỌC SINH LỚP 5” 1 LỜI CẢM ƠN Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5” mà tôi nghiên cứu đến nay đã hoàn thành. Có được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Phù Cừ đã tạo điều kiện để tôi nghiên cứu và thực hiện. Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Tiểu học Minh Tân, giáo viên tổ 4, 5, cô giáo Lê Phương Nga, các bạn học lớp K4 ĐHSP, đã hỗ trợ, giúp tôi thu thập tài liệu, lựa chọn phương pháp làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Cũng trong dịp này, tôi xin cảm ơn các em học sinh khối 5 Trường Tiểu học Minh Tân khóa học 2012 – 2013 và khóa học 2013 – 2014 đã ủng hộ, giúp đỡ để tôi hoàn thành nghiên cứu này. Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và cách nhìn của bản thân không tránh khỏi phiến diện, sai sót. Vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các chuyên viên Phòng giáo dục, Ban giám hiệu trường và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi có tính khả thi cao, góp phần vào việc nâng cao chất lượng học viết văn nói riêng và học tập nói chung. Tôi xin chân thành cảm ơn! Minh Tân ngày, 10 tháng 3 năm 2014 2 Người viết Hoàng Thị Thúy Vinh 3 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận Trong chương trình tiểu học, cùng với môn toán môn Tiếng Việt chiếm khá nhiều thời gian so với các môn học khác. Môn Tiếng việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của lứa qua việc dạy học Tiếng việt, góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Môn Tiếng việt gồm nhiều phân môn khác nhau như tập đọc, luyện từ và câu, kể chuyện, tập viết, chính tả, tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn. Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học tiểu học, nó không chỉ giúp học sinh hình thành các kĩ năng Nghe, nói, đọc, viết mà còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt còn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại và năng động. Dạy tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em. Đồng thời cũng dạycác em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua 4 các văn bản- còn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ pháp Tiếng việt. Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính của chương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả. Tả cảnh là một kiểu bài khó vì học sinh không có khả năng quan sát tinh tế, mặt khác có những cảnh học sinh chỉ có thể gặp một lần khi đi du lịch hay xem trên truyền hình, không cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết dựa vào cảm xúc của mình để làm cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn. Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục. 2. Cơ sở thực tiễn Là một giáo viên đã trải qua nhiều năm giảng dạy chương trình lớp 4, 5 tôi nhận thấy thể loại văn tả cảnh trong phân môn Tập làm văn ở lớp 5 là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng được miêu tả. Thực tế giảng dạy tập làm văn phần tả cảnh, bản thân người giáo viên là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng túng, bí từ và không biết phải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài văn hay, có hình ảnh có cảm xúc. Một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ có các bài văn đã viết sẵn và thực tế mẫu nhưng không phải là chuẩn 5 mực, có chăng chỉ là đôi chỗ có câu, ý hay,… mà lại không có một sự hướng dẫn cụ thể nào để định hướng cho giáo viên cũng như học sinh. Là một giáo viên tiểu học tôi luôn trăn trở suy nghĩ để làm thế nào cho học sinh thích làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh động. Trong năm học 2011 – 2012, 20122013, tôi đã dạy và tìm hiểu khá kĩ về mảng Tập làm văn, đặc biệt là văn tả cảnh lớp 5. Tôi đã áp dụng một số phương pháp và thấy có những kết quả đáng mừng. Kinh nghiệm này được áp dụng và đã mang lại hiệu quả nhất định trong dạy Tập làm văn. Năm học 2013- 2014, tôi mạnh dạn đề xuất một vài biện pháp nhỏ “ Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5”, để nghiên cứu với hi vọng gúp phần nâng cao trình độ của bản thân và nâng cao chất lượng dạy - học văn tả cảnh lớp 5 nói riêng và nâng cao chất lượng dạy học nói chung. Qua đây, tôi mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi của đồng nghiệp để đề tài thực sự có giá trị trong quá trình dạy học. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1. Giúp học sinh lớp 5 - Hiểu được đặc điểm của thể loại văn tả cảnh, trọng tâm miêu tả của từng bài. - Biết những ưu điểm và hạn chế của mình trong viết văn và có biện pháp tốt cho việc học viết văn của mình. - Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý, biết sử dụng sơ đồ tư duy để lập dàn ý, viết bài. - Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn, diễn đạt lưu loát, mạch lạc. - Rèn kĩ năng viết các đoạn văn, bài văn giàu hình ảnh, cảm xúc. - Bồi dưỡng tình cảm yêu mến, gắn bó, biết trân trọng những cảnh vật xung quanh các em. 6 - Có cách nhìn sự vật theo hướng tích cực, ham thích quan sát, tìm tòi khám phá. - Có tiền đề tốt để học viết văn miêu tả ở các lớp sau… 2. Giúp giáo viên - Nhìn nhận lại sâu sắc hơn việc dạy văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 để vận dụng phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt. - Tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy TLV nói chung và trong dạy học sinh viết văn tả cảnh nói riêng. - Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học. III, KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Khách thể nghiên cứu - Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Minh Tân. 2. Đối tượng nghiên cứu - Thể loại văn tả cảnh lớp 5, một số kinh nghiệm rèn viết văn tả cảnh. IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Tìm hiểu mục tiêu, nội dung dạy- học văn tả cảnh lớp 5. 2. Thực trạng dạy- học văn tả cảnh ở lớp 5. 3. Một số biện pháp dạy- học văn tả cảnh lớp 5. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp nghiên cứu lí luận - Đọc tài liệu liên quan đến đề tài - Nghiên cứu nội dung chương trình TLV 5, mạch kiến thức Dạy viết văn tả cảnh. 7 2. Phương pháp quan sát sư phạm - Điều tra thực trạng qua từng giai đoạn trong suốt năm học, trao đổi với giáo viên và học sinh, tìm hiểu thực tế việc dạy- học phân môn TLV trong trường Tiểu học. - So sánh đối chứng trong cùng một giai đoạn giữa lớp này với lớp kia, giữa các giai đoạn với nhau trong cùng một lớp, đối chứng cả với những năm học trước. - Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức học TLV của học sinh lớp dạy thực nghiệm và học sinh lớp khác trong khi đi dự giờ, quan sát phương pháp sư phạm của giáo viên giảng dạy, quan sát chất lượng bài viết của học sinh ở từng dạng miêu tả khác nhau để tìm hiểu những tác nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng viết văn miêu tả của học sinh. 3. Ứng dụng sơ đồ tư duy Sử dụng sơ đồ tư duy trong một số phần để hướng dẫn học sinh quan sát, viết mở bài, lập dàn ý cho bài văn tả cảnh. 4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm - Tiến hành đồng thời với phương pháp kiểm tra toán học và phương pháp tổng hợp số liệu thống kê. Khi kiểm tra đánh giá chất lượng bài văn miêu tả của từng học sinh, tôi mô tả và thống kê chất lượng ấy bằng những số liệu cụ thể, sau đó tổng hợp các số liệu đã thu được nhằm rút ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân. VI. PHẠM VI, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU - Các tiết Tập làm văn về bài văn tả cảnh ở lớp 5. - Thực trạng dạy – học văn tả cảnh của giáo viên, học sinh lớp 5 trường Tiểu học Minh Tân nơi tôi công tác trong thời gian qua, đặc biệt là học sinh lớp 5B năm học 2012 -2013. 8 VII. THỜI GIAN HOÀN THÀNH Việc nghiên cứu tìm ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 Rèn kĩ năng viết bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5’’được hoàn thành vào cuối học kì I năm học 2012 – 2013 và một số nội dung liên quan tới tháng 2 năm 2014. 9 B. NỘI DUNG CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN DẠY HỌC VĂN TẢ CẢNH Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vật nào đó xung quanh ta. Như vậy văn tả cảnh có thể xem là một văn bản nghệ thuật có sử dụng ngôn ngữ văn chương để miêu tả sự vật hiện tượng một cách cụ thể sinh động. Bất kì hiện tượng nào trong thực tế đời sống cũng có thể miêu tả được, tuy nhiên bằng những cảm xúc khác nhau của mỗi người, mỗi hiện tượng lại được lại được miêu tả với cách thể hiện riêng qua việc quan sát, sử dụng từ ngữ và cách diễn đạt khác nhau. Đối tượng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh ta như dòng sông, cánh đồng, hàng cây...Khi viết bài văn tả cảnh cần đặc biệt tập trung vào những nét tiêu biểu của cảnh vật đó. Để bài văn được sinh động và hấp dẫn hơn với người đọc ta có thể lồng vào đó việc tả người, tả vật với những cung bậc cảm xúc khác nhau. Ngôn ngữ trong văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh và có nét riêng biệt. Chính vì thể để có bài văn hay đòi hỏi người viết phải có hiểu biết về phương pháp làm văn, phải biết dùng từ ngữ, biết vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật tu từ được học. II. TÌNH HÌNH THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC. 1. Sách giáo khoa. 10 Hiện nay theo phân phối chương trình trong sách giáo khoa có 19 tiết tả cảnh, trong đó có 13 tiết lý thuyết kết hợp thực hành, còn lại là kiểm tra và trả bài. Nội dung tả cảnh tập trung vào các cảnh Một buổi trong ngày, một hiện tượng thiên nhiên, trường học, cảnh sông nước. Với các nội dung trên, yêu cầu viết lại chủ yếu là đoạn văn. Do đó, với mỗi cảnh học sinh ít được viết hoàn thiện một bài văn hoàn chỉnh ngay trên lớp để thầy cô và bạn bè trực tiếp góp ý. 2. Người học về phía học sinh - Học sinh chưa biết bộc lộ cảm xúc và sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi tả cảnh khiến bài viết thiếu hình ảnh, khô khan,… Học sinh chưa có hứng thú viết văn đặc biệt là văn miêu tả. - Học sinh không có thói quen sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi viết văn - Khi làm văn, học sinh miêu tả hời hợt, chung chung, vốn từ còn nghèo nàn, bài văn trở thành một bảng liệt kê các đối tượng miêu tả, không làm nổi bật được cảnh đang tả. - Bài văn học sinh làm thường vay mượn ý tình của người khác, các em thường sao chép những bài văn mẫu thành bài văn của mình không kể đầu bài quy định như thế nào. Với cách làm ấy các em không cần biết đối tượng cần miêu tả gì, không chú ý tới đặc điểm nổi bật tạo nên nét riêng của cảnh, cũng như không có cảm xúc về nó. - Học sinh chưa có ý thức quan sát đối tượng miêu tả và ghi chép những điều quan sát được một cách cụ thể và chi tiết chính vì vậy mà các em còn lơ mơ về đối tượng miêu tả nên tả còn nhiều chi tiết khập khiễng, lủng củng không gắn kết với nhau. - Học sinh tiểu học vốn sống, vốn kiến thức và những rung cảm trước cái đẹp còn hạn chế nên chưa thổi được vào cảnh cái hồn để cảnh miêu tả trở nên sinh động, ấn tượng 11 hơn. - Học sinh chưa có phương pháp làm văn cụ thể, việc tiếp thu kiến thức làm văn đến vận dụng kiến thức đó chưa chủ động và linh hoạt. - Kĩ năng vận dụng các từ ngữ gợi hình, gợi tả và các biện pháp nghệ thuật tu từ còn lúng túng. b. Người dạy - Giáo viên chỉ có một con đường duy nhất là hình thành các hiểu biết về lí thuyết, thể loại văn, kĩ năng làm văn... Đó là qua phân tích các bài văn mẫu với lý thuyết khô khan, khó hiểu. - Giáo viên chưa chủ động, sáng tạo trong dạy học, chưa gây hứng thú cho học sinh khi học văn, chưa có những câu văn chân thực, gần gũi,… Đặc biệt, khi học sinh đưa ra một câu văn dùng từ chưa chuẩn hay thiếu hình ảnh, chưa hợp lí, … chưa chỉnh sửa kịp thời và không làm bật được cái hạn chế và thay thế ngay câu văn có nghĩa, đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh để học sinh có thể mê’’ thì chưa thể thổi hồn, làm cầu nối nâng tình yêu văn học cho các em. - Một số giáo viên còn mắc bệnh thành tích trong dạy học. Để đối phó với việc học sinh làm kém và đảm bảo “chất lượng” khi kiểm tra, thi cử... nhiều cô giáo, thầy giáo cho học sinh học thuộc làm sẵn một số bài văn mẫu để các em khi gặp đầu bài tương tự cứ thế mà chép ra làm cho các em lệ thuộc vào bài mẫu, không có sáng tạo trong làm bài. - Ra đề bài chưa thích hợp với học sinh theo từng vùng miền, địa phương. Khiến học sinh vô cùng lúng túng khi miêu tả. 12 Ví dụ Đề bài yêu cầu tả cảnh biển lúc bình minh, thực tế học sinh chưa được nhìn thấy hay được quan sát biển bao giờ. - Giáo viên không thực hiện đúng các yêu cầu khi trả bài viết của học sinh, không giúp các em nhận thấy được những lỗi sai của mình khi làm bài để có sự chỉnh sửa rút kinh nghiệm cho bài làm sau. Đây không phải là vấn đề có thể giải quyết được trong một tiết, một tuần, … mà là cả một quá trình dạy Tập làm văn bởi dạng văn tả cảnh là sự kết hợp của nhiều thể loại văn các em đã học và còn cần có cách nhìn, cách nghĩ, cách sáng tạo mới. - Chính vì một số nguyên nhân trên tôi đã khảo sát chất lượng làm văn của học sinh hai lớp 5. lớp 5A đối chứng và lớp 5B thực nghiệm để làm cơ sở kiểm chứng thực nghiệm sau này. - Đề bài Em hãy tả một cảnh thiên nhiên đẹp ở địa phương. - Kết quả thu được như sau Tổng Giỏi Lớp số HS Khá Trung bình Yếu SL TL% SL TL% SL TL% SL TL % 5A 29 2 6,8 7 24,3 15 51,7 5 17,2 5B 28 2 7 6 20,7 15 52,6 6 20,7 13 Từ kết quả trên tôi thấy chất lượng học sinh hai lớp là tương đương bởi tỉ lệ học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu luôn ngang nhau, tôi quyết định lựa chọn một số giải pháp để ứng dụng, thực nghiệm mong muốn có kết quả tốt để cải tiến cách dạy, cách học cho cá nhân và học sinh và có thể là giải pháp cho đồng nghiệp. III. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT. Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải đổi mới phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả cảnh một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn. Để đạt được mục tiêu trên thì cần phải tiến hành giải quyết các vấn đề chính sau Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng. Hướng dẫn học sinh một số thủ pháp làm văn tả cảnh. Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật tu từ. Cung cấp, khuyến khích học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi học, đọc, viết các bài văn, thơ về tả cảnh. Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh. Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào nhau một cách nhịp nhàng và linh động thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều. CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH. 14 Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải quyết các vấn đề được nêu ở trên giúp học sinh làm tốt bài văn tả cảnh như sau 1. Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng. Việc cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng giúp học sinh có con đường đi đến bài văn đúng hướng, không bị sai lệch về cả nội dung và hình thức. - Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm văn miêu tả + Cụ thể hóa sự vật tả cái gì? Ví dụ Tả cánh đồng thì tập trung tả cánh đồng, không miên man tả sâu cảnh xóm làng nằm bên cạnh cánh đồng, hay cảnh trời mây vào thời điểm đó cho dù các sự vật đó cũng có liên quan. + Cá thể hóa sự vật tả như thế nào? Tả cảnh nào thì người đọc hình dung cảnh đó chứ không bị lẫn lộn với cảnh khác. Ví dụ Tả cảnh cánh đồng thì phải tả chủ yếu những yếu tố liên quan không thể tách rời như Lúa, ngô, rau màu, thửa ruộng, bờ mương, đàn trâu, con người lao động, .. + Mục đích hóa sự vật tả với mục đích gì ? Ví dụ Tả cánh đồng với mục đích đó là tả lại một cảnh đẹp rất đáng tự hào của người dân quê hương, ích lợi mà cánh đồng mang lại…. + Cảm xúc hóa sự vật tả với tư tưởng, tình cảm, thái độ ra sao? Ví dụ Tả cánh đồng với niềm tự hào, với sự ngưỡng mộ về một vẻ đẹp nên thơ... 15 - Cung cấp cho học sinh các bước làm văn miêu tả. + Bước 1 Tìm hiểu đề + Bước 2 Quan sát tìm ý + Bước 3 Sắp xếp ý lập dàn ý + Bước 4 Viết bài hoàn chỉnh + Bước 5 Kiểm tra lại bài. Hiện nay Sách giáo khoa không còn những tiết riêng cho Tìm hiểu đề, quan sát tìm ý nhưng qua mỗi đề văn giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm theo các bước kể trên. Để rèn cho học sinh thói quen làm tuần tự theo các bước kể trên khi làm văn thì mỗi bước làm giáo viên cũng phải hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ về phương pháp cũng như cách suy nghĩ, cách thực hiện bài làm. Cụ thể * Bước 1 Tìm hiểu đề - Tác dụng Giúp học sinh xác định được yêu cầu đề bài, tránh làm lạc đề. Nói cách khác tìm hiểu đề để định hướng học sinh nắm được mình đang làm bài văn thuộc thể loại gì, tả cái gì, đối tượng đó có những yêu cầu, giới hạn đến đâu... - Cách thực hiệnHướng dẫn học sinh làm những công việc sau + Đọc kĩ đề. + Phân tích đề. Phân tích đề bằng cách - Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn. 16 - Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả. Ví dụ Đề bài Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích ấn tượng. Học sinh tìm hiểu và phân tích đề bài qua việc trả lời các câu hỏi ?/ Hãy xác định thể loại làm văn? ?/ Đối tượng miêu tả là gì? ?/ Mấy cảnh? Cảnh đó được miêu tả vào thời gian nào ? Thể loại Đối tượng Giới hạn miêu tả miêu tả Không gian Miêu tả Thời gian Dòng sông Mở B ất kì Đặc điểm ấn tượng, thích Sau khi trả lời đúng các câu hỏi trên, học sinh thực hành gạch chân trực tiếp trên đề bài. Đề bài Hãy miêu tả vẻ đẹp của một dòng sông mà em yêu thích ấn tượng. * Bước 2 Bước quan sát và tìm ý - Tầm quan trọng Là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh muốn viết được bài văn hay, sống động phải có được sự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả và phải có sự ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những đặc điểm mình miêu tả. - Cách thực hiện Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả nhiều lần và bằng nhiều giác quan khác nhau như thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, xúc giác... nhằm giúp các em nhận biết về cảnh đầy đủ và chính xác hơn. 17 * Luyện kĩ năng quan sát Muốn quan sát có hiệu quả, quan sát phải có tính mục đích, người quan sát phải có cách nghĩ, cách cảm của riêng mình. Quan sát để làm văn nhằm phản ánh một đối tượng cụ thể, vừa chi tiết, vừa có tính khái quát. Qua chi tiết, người đọc phải thấy được bản chất của sự việc. Vì vậy quan sát phải có lựa chọn. Nếu yêu cầu các chi tiết cụ thể nhưng đó không phải là những chi tiết rời rạc, tản mạn, mang tính chất liệt kê. Chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc, lựa chọn những điểm riêng biệt, nổi bật, gây ấn tượng,… Đó là những chi tiết lột tả được cái thần của cảnh. Khi quan sát, cần sử dụng đồng thời nhiều giác quan và điều quan trọng là phải quan sát bằng tấm lòng. Mục đích quan sát sẽ quy định đối tượng và phương pháp quan sát. Để tả cảnh, cần xác định vị trí quan sát. thời điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát. Quan sát phải luôn gắn với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả. Để giúp quan sát và tìm ý, với mỗi đề bài cần có một hệ thống câu hỏi gợi ý nội dung quan sát và các ý cần xác lập. Nếu học sinh không thực hiện tốt bước quan sát và tìm ý thì học sinh sẽ không có chất liệu để làm văn từ đó học sinh sẽ không có hứng thú làm bài hoặc sao chép bài văn từ những bài văn mẫu. Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép tỉ mỉ những điều mình quan sát tạo thành một cuốn cẩm nang để khi miêu tả học sinh có sẵn tư liệu để làm bài. Thông thường với đề bài nào tôi cũng yêu cầu các em ghi kết quả quan sát theo các ý. Chọn chi tiết nổi bật, nét riêng độc đáo, …có thể bỏ trống ô nếu không phù hợp. Mắt thấy Tai nghe Mũi ngửi Tay sờ Thị giác Thính giác Khứu giác xúc giác … … … … 18 Quan sát theo không gian Vị trí Xa, gần, trên, dưới, trong, ngoài, trái, phải, phía trước, phía sau, … Hoặc quan sát theo thời gian Thời điểm Sáng, trưa, chiều, tối, các mùa trong năm, thời tiết, …. Lưu ý Đây là bước tìm ý ban đầu, cái sườn chung nhưng không phải bài nào cũng theo đủ các ý, các trình tự như trên mà kết hợp cho hài hòa để thể hiện được những nét riêng mà không trùng lặp… Ví dụ Khi tả dòng sông quê hương, học sinh quan sát và hoàn thành sơ đồ tư duy như sau Từ những ghi chép quan sát trên thì chắc chắn các em sẽ làm được những bài văn vô cùng sinh động và hấp dẫn. Tuy nhiên quan sát bằng các giác quan chưa đủ mà giáo viên cũng cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự không gian và thời gian. Ví dụ Cách quan sát dòng sông quê. 19 Ví dụ Dòng sông được quan sát gắn theo trình tự thời gian thân bài. 20
Sáng kiến kinh nghiệm môn Tập làm văn lớp 4Sáng kiến kinh nghiệm Một số trò chơi giúp các tiết dạy văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp bốn đạt hiệu quả là tài liệu tham khảo hay dành cho quý thầy cô có thêm phương pháp dạy học hiệu quả. Chúc quý thầy cô dạy tốt!I. Đặt vấn đềMôn Tiếng Việt là môn học công cụ trong nhà trường phổ thông. Nó bao gồm nhiều phân môn,các phân môn này có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Nó có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học. Trong đó môn Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp cao. Khi làm một bài văn, học sinh phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức về cuộc sống, về ngôn ngữ và về văn học để trình bày vấn đề được đặt ra theo tình cảm, tư tưởng cách nhìn, cách nghĩ của chính mình. Do đó, qua bài Tập làm văn, ta có thể thấy được tình cảm và thái độ của học sinh đối với các sự vật và hiện tượng. Đồng thời, ta cũng thấy được năng lực vận dụng ngôn ngữ của các em qua cách dùng từ, đặt câu. Chính vậy mà hiệu của các phân môn Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập đọc đều thể hiện đầy đủ và rõ ràng qua phân môn Tập làm văn. Để việc luyện tập thực hành trong tiết Tập làm văn đem lại kết quả, người GV cần phải có cách tổ chức tiết học để tạo cho HS sự thoải mái, niềm hứng thú thái độ tự giác tham gia vào hoạt động cùng bạn bè một cách tích trong những biện pháp góp phần đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, làm cho tiết học ngày càng diễn ra nhẹ nhàng và có hiệu quả đó là sử dụng các trò chơi củng cố kiến thức đã giúp tôi thành công trong khi dạy Tập làm Cơ sở lý luậnHọc tốt phân môn này, HS sẽ có cơ sở tiếp thu và diễn đạt các môn học khác trong chương trình, các em sẽ có suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng và khoa học, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của cuộc sống và tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng năng khiếu thẩm mỹ cho các em và giúp các em phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện các thao tác tư duy. Tư duy có phát triển thì ngôn ngữ mới phát triển. Và ngược lại, ngôn ngữ càng phát triển thì càng tạo cho tư duy phát triển nhanh hơn. Do vậy ngôn ngữ càng hoàn hảo, càng giúp cho việc diễn đạt tư tưởng tình cảm thêm chính xác, giúp khả năng nhận xét thêm sâu sắc, có khả năng trình bày được rõ ràng, chính xác những ý nghĩa và tình cảm của mình. Nhưng làm thế nào để đạt được kết quả trên khi HS chưa say mê, yêu thích môn học này, bởi nó là môn học đòi hỏi sự sáng tạo của HS, nên các em cần phải được hướng dẫn thực hành thường Cơ sở thực tiễnĐối với HS lớp 4, phân môn TLV quả là khó khăn đối với các em. Bởi lẽ, đây là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, cho nên người GV cần phát huy độc lập, suy nghĩ và trí sáng tạo của các em qua từng khâu từ việc ra đề, hướng dẫn tìm hiểu đề, hướng dẫn làm bài cho đến khâu chấm bài,trà bài. Để làm được việc này, người giáo viên vô cùng khó khăn vì trong thực tế học sinh rất sợ học phân môn này. Ở lớp 2, 3 những bài tập làm văn hầu hết đều được mang tính chất ôn tập về những bài văn đã học, và chủ yếu vẫn còn ở dạng bài tập đặt câu. Đến cuối lớp 3, các em mới biết trả lời câu hỏi thành bài dựa vào nội dung bài tập đọc. Nói chung chưa có những bài dạng sáng tạo. Nhưng lên lớp 4, các em phải độc lập suy nghĩ, hoàn toàn sáng tạo nên các em không biết phải làm gì, viết gì nếu không được hướng dẫn cặn kẽ, chu đáo dẫn đến các em sợ sệt ,thiếu tự tin khi tham gia vào các họat động của tiết học. Một số GV còn vội trong việc truyền thụ kiến thức, xem nhẹ thực hành nên HS thiếu chủ động Và nếu GV chỉ thực hành bằng bài tập ở SGK sẽ gây cho HS sự nhàm chán, mệt mỏi dẫn đến các em không còn yêu thích phân môn TLV trong những biện pháp góp phần đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, làm cho tiết học ngày càng diễn ra nhẹ nhàng và có hiệu quả. Vì vậy, trong đề tài này tôi chỉ trình bày một số biện pháp tổ chức “Một số trò chơi giúp các tiết dạy văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp bốn đạt hiệu quả”.IV. Nội dung nghiên cứuĐể tạo cho HS sự thoải mái, hứng thú và tự tin khi học TLV, sau mỗi tiết dạy, tôi thường dành 5 - 7 phút để tổ chức cho HS những trò chơi, những bài tập vui và nhẹ nhàng để HS có thể tự học, tự tham gia vào các trò chơi, bài tập vui, nhẹ nhàng để HS có thể tự học, tự tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần "Học vui, vui học"; "Học mà chơi, chơi mà học" một cách hứng thú và bổ ích. Những trò chơi này phải có tác dụng trong việc củng cố, khắc sâu kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho Biện pháp 1 Trò chơi “Hộp thư chạy”a. Mục đích- Cung cấp cho học sinh một số ý từ để các em có cơ sở hình thành bài văn đầy đủ ý cho những tiết tiếp theo và tạo cho các em tính nhanh nhẹn, mạnh dạn, tập Rèn luyện khả năng quan sát ,chú ý và tư duy của học Chuẩn bị- 1 hộp thư- Câu hỏi của bài đang họcc. Cách tổ chứcGiáo viên nêu cách chơi và quy luật chơi. Hộp thư sẽ được chuyền từ bạn này sang bạn khác một cách khẩn trương, gọn gàng theo nhịp bài hát nào đó. Khi có hiệu lệnh của giáo viên, hộp thư dừng chạy. Học sinh nào đang cầm hộp trên tay phải mở hộp ra bốc câu hỏi trả lời. Nếu trả lời đúng được cả lớp tuyên dương, nếu không trả lời được sẽ phải thực hiện một hình phạt nhẹ nhàng do giáo viên quy định và học sinh khác sẽ xung phong trả lời thay bạn. Giáo viên nhận xét và cho trò chơi tiếp dạy về quan sát, tìm ý và lập dàn bài tôi thường tổ chức "Hộp thư chạy". Bằng một hệ thống câu hỏi chuẩn bị sẵn mang tính gợi mở đòi hỏi HS phải độc lập suy nghĩ, quan sát để tìm hiểu được vấn đề. Tuỳ dạng bài mà giáo viên chọn hệ thống câu hỏi phù hợp cho trò khi cho học sinh quan sát tranh, hình ảnh tĩnh, động, vật thật để giúp học sinh tái hiện nội dung khi ta quan sát, nhận biết. Giáo viên có thể chuẩn bị hệ thống câu hỏi như sauBài "Tả cái cặp sách" tiết 34- Em hãy kể các bộ phận của cái Cặp làm bằng gì?- Quai cặp thế nào?- Mặt cặp được trang trí thế nào? Từ nào tả vẻ đẹp của ổ khoá?- Em hãy tìm những từ ngữ chỉ màu sắc của cái Em gìn giữ cặp ra sao?Bài “Tả cây có cây có bóng mát” tiết 46- Em hãy nêu các bộ phân của Thân cây thế nào?- Gốc cây ra sao?- Nêu đặc điểm của cành cây- Tìm từ tả màu sắc và hình dáng của Cây có hoa không? Hãy nêu hình dáng màu sắc của Hãy nêu ích lợi của Những hoạt động có liên quan đến cây ?Bài “Tả con gà trống”Gà trống to chừng nào?Thân hình gà thế nào?Em hãy tìm từ tả màu lông của gà trống?Đầu gà,chân gà thế nào?Móng vuốt gà dùng để làm gì?Gà có những thói quen gì trong sinh hoạt?Tìm từ tả tiếng gáy của gà trống?Nuôi gà có ích lợi gì?Với số câu hỏi cụ thể cho từng bài này, tôi đã vận dụng để tổ chức trò chơi sau2. Biện pháp 2 Trò chơi “Thi tìm từ nhanh”a. Mục đích Trò chơi “Tìm từ nhanh” cũng đã giúp các em nhận biết nhanh các từ ngữ phục vụ cho bài học và làm giàu thêm vốn từ cho các em, luyện trí thông minh và tác phong nhanh nhẹn khi trình bày viết Chuẩn bị Làm một số bìa nhỏ có ghi các từ ngữ phục vụ nội dung bài Cách tổ chức chơiGV nêu cách chơi chọn 2 đội, mỗi đội 2 em cùng tham gia trò chơi. Bắt trò chơi chơi GV gắn yêu cầu cần tìm lên bảng, 2 nhóm nhanh chóng tìm từ GV đã cho sẵn, gắn lên bảng khi có hiệu lệnh hết giờ, 2 nhóm dừng trò chơi, nhóm nào tìm được nhiều từ hơn, chính xác hơn là đội thắng viên có thể cho học sinh thi tìm từ theo một số câu cho sẵn. Sau khi học sinh được quan sát, trao đổi, học sinh tìm được các từ nêu về đặc điểm, lợi ích của cây, nêu các bộ phận của nó thông qua hệ thống câu hỏi, hình ảnh tĩnh, động qua đoạn phim mà giáo viên đã sưu tầm dụ Bài ”Tả cây hoa phượng” tiết 50+ Từ chỉ màu xanh của lá, xanh đậm, xanh lam, xanh um, xanh tươi, xanh thẫm.+ Từ chỉ màu đỏ của hoa Đỏ thắm, đỏ tươi, đỏ tía, đỏ rực.+ Từ chỉ cành lá sum suê, um tùm…+ Từ chỉ thân cây nham nhám, sần sùi …+ Từ chỉ ích lợi che mát, giúp HS vui chơi, cho vẻ đẹp, ăn quả …+ Tìm một số từ tả các bộ phận của câyNội dung yêu cầu gồm các từ lá cây, hoa phượng, thân cây, ích GV gắn từ nào lên bảng thì HS chọn từ để tả theo yêu cầu chơi này có tác dụng rất cao, tạo được không khí thoải mái, vui vẻ và rèn được tính nhanh nhẹn, tập trung tinh thần thi đua sôi nổi và khắc sâu được một số từ cần thiết không thể thiếu trong bài làm của HS trong những tiết sau. Ngoài ra, còn tạo cho HS tính mạnh dạn, tự tin, thích tham gia vào hoạt động chung của Biện pháp 3 Trò chơi “Thi đố bạn”Đối với các tiết học hướng dẫn HS trình bày miệng,tôi thường tổ chức cho HS chơi trò chơi “Thi đố bạn”a. Mục đíchGiúp HS hình thành bài văn có hệ thống. Tập tác phong nhanh Chuẩn bị- 1 bảng phụ đã viết sẵn đoạn 1 số băng giấy đã viết sẵn các câu văn trong đoạn văn Cách tổ chứcGV nêu cách chơi. luật chơiMỗi tổ chuẩn bị từ hai đến ba đoạn văn mẫu, trong đoạn văn đó có sử dụng biện pháp nghệ thuật. Tổ này đọc đoạn văn của tổ mình, yêu cầu tổ bạn nêu biện pháp nghệ thuật mà tổ đã sử dụng trong đoạn văn đó. Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn văn là hình ảnh so sánh, nhân hóa, các so sánh, tác dụng của nó. Cứ như vậy đến tổ khác lên đọc đoạn văn rồi mời tổ bạn tìm và nhận nào nói đúng, nhanh là thắng Bài tả cây hoa hồngMột vài đoá hồng khoe sắc một cách tự nhiênCác cánh xoè ra mạnh mẽ như phô trương sắc đẹp của mìnhCánh hoa hồng màu đỏ thắmGiữa bông hoa và các đốm nhuỵ vàng tươi toả hương thơm ngátChỉ một làn gió nhẹ là tất cả chao động4. Biện pháp 4 Trò chơi “Tuyển chọn biên tập viên”Đối với những tiết chữa bài, tôi thường tổ chức cho các em trò chơi “Tập phát hiện câu” hay “Tuyển chọn biên tập viên”a. Mục đích- Luyện kĩ năng vận dụng những kiến thức ngữ pháp đã học để chữa câu sai thành câu đúng nhằm diễn đạt ý một cách chính Rèn óc quan sát, nhận xét và phê phán các hiện tượng ngữ pháp sai qui Chuẩn bị- Ghi lại một số câu sai ngữ pháp trong bài làm hoặc một số câu viết chưa có hình Chép các câu sai vào một mảnh giấy nhỏ gấp lại bỏ vào hộp của Thi cá nhân hoặc chia nhóm có số người bằng Giấy + Cách tiến hành- Yêu cầu Đọc kỹ câu sai, xác định rõ nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng ngữ pháp chỉ được thay đổi 2-3 từ, không viết lại thành câu có ý khác hẳn ý của câu cũ, chữa lại bằng nhiều cách thì càng tốt trong thời gian cho phép hoặc viết câu lại cho có hình Sóng biển vỗThuyền đang lướt sóng- Quản trò điều khiển cho thực hiện theo kiểu tiếp sức tổ 1 đến tổ 2, tổ GV và cả lớp nghe từng nhóm đọc kết quả để đánh giá cho tục tiến hành như trên đỗi với đề thi số thúc cuộc thi GV cộng điểm đạt được của từng nhóm cá nhân và công bố kết quả người nhóm có điểm cao nhất được tuyển chọn làm “Biên tập viên”V. Kết quả nghiên cứuSau vài năm tổ chức trò chơi cho HS ở cuối tiết học môn TLV, tôi thấy kết quả như sau- Hầu hết HS của lớp tôi phụ trách đều làm được bài văn đầy đủ Bộ phần lớn trong lớp đã biết sử dụng các từ ngữ gợi Ít có HS viết câu sai về ngữ HS tự giác và tự tin khi tham gia vào các hoạt động của Tạo được không khí thoải mái, hứng thú học tập trong Tạo được nề nếp thi đua trong học tập một cách sôi nổi và hào Kết luậnTừ những kết quả đạt được nêu trên tôi rút ra được những kinh nghiệm sau- Người GV phải hiểu được tầm quan trọng của môn Tập làm Phải chuẩn bị chu đáo khi đến Phải biết tổ chức các hoạt động của tiết học nhẹ nhàng, tạo không khí thoải mái cho Coi trọng các hoạt động của Tùy nội dung của mỗi bài để chuẩn bị nội dung cho phù lại, tổ chức trò chơi sau tiết học Tập làm văn nhằm cung cấp cho các em một số ý, từ và khắc sâu những nội dung cần phải có trong bài để bài viết có đầy đủ ý vận dụng được một số từ có hình ảnh gợi cảm, gợi tả đồng thời tạo cho lớp học không khí thoải mái, hứng thú làm cho HS yêu thích môn học để chất lượng học tập ngày càng cao xin cam kết đây là sáng kiến của tôi, không sao chép hoặc vi phạm bản quyền của người khác./.Các tài liệu liên quanSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy Tập làm văn miêu tả ở lớp 4Báo cáo sáng kiến Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4Sáng kiến kinh nghiệm - Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu họcTrên đây, đã giới thiệu sáng kiến kinh nghiệm lớp 4 Sáng kiến kinh nghiệm Một số trò chơi giúp các tiết dạy văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp bốn đạt hiệu quả, mời các bạn tham khảo thêm các sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học khác.
sáng kiến kinh nghiệm tập làm văn lớp 5